Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ Cư Sĩ Hoàng Niệm Tổ

Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ

(Kinh Phật Thuyết Ðại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Ðẳng Giác)

Tác Giả: Lão Cư Sĩ Hoàng Niệm Tổ

Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa kính dịch sang Việt ngữ
Giảo chánh: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong
(Dịch theo bản in lần thứ nhất của Hoa Tạng Phật Giáo Ðồ
Thư Quán, Ðài Bắc, tháng 2, 1992

CHÚ GIẢI PHẬT THUYẾT ÐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM THANH TỊNH BÌNH ÐẲNG GIÁC KINH Bồ tát giới đệ tử Vận Thành Hạ Liên Cư hội tập và kính chia thành chương mục.
Chú giải: Kim Cang thừa tam-muội-da giới đệ tử Hoàng Niệm Tổ
Hòa thượng thượng Tịnh hạ Không chuyên hoằng truyền pháp môn Tịnh Độ, giảng Tịnh Độ Đại Kinh Khoa Chú

Download Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ  pdf  , Word

Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ MP3

01 02 03 04 05 06 07 08 09 10
11 12 13 14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24

Youtube

Cư sĩ Diệu Âm diễn đọc

 

Lời Giới Thiệu Của Hòa Thượng THÍCH TỊNH KHÔNG
Mùa Thu năm Bính Dần, tôi thường qua lại cả hai miền Ðông
Tây nước Mỹ hoằng pháp, viếng thăm mười thành phố lớn. Trong số
kiều bào, có không ít vị tin tưởng vào cõi Tịnh Ðộ của Phật Di Ðà,
phát nguyện tu hành đúng như kinh giáo. Tôi mừng vui vô lượng, biết
họ thiện căn phước đức thật chẳng thể tính kể. Viếng thành phố Lạc
Sam Ky (Los Angeles), gặp anh em nhà họ Địch thưa: “Nhân mừng
thọ bát tuần của cha con, chúng con muốn in kinh để chúc thọ có được
không?”
Tôi đáp: “Thật là thuần hiếu. Việc lành ấy hơn cả việc tụ tập
thân hữu chúc tụng, nâng chén chúc thọ nữa; vì đem Thọ kinh này trao
cho mọi người thì sẽ được hưởng vô lượng thọ”. Tôi lại bảo: “Mùa
Xuân năm nay, Tuyết sư (cư sĩ Lý Bỉnh Nam, hiệu Tuyết Lư, thầy của
Hòa Thượng Tịnh Không) quy Tây, tôi muốn báo ân pháp nhũ của
thầy, tính giảng bản hội tập kinh Vô Lượng Thọ của Ðại Sĩ Hạ Liên
Cư. Thầy tôi trước đây hay giảng kinh này ở Ðài Trung, từng đích
thân ghi chú trên lề sách, duyệt kỹ lời đề tựa của hai vị Mai, Hoàng
(Mai Quang Hy và Hoàng Niệm Tổ) cũng như lời bạt của cụ Niệm
Tổ; nồng nhiệt khen hay. Thầy bảo mười bốn khoản ca ngợi kinh Vô
Lượng Thọ trong bài Hợp Tán đã nêu trọn bản hoài của chư Phật, đích
thật là cả một tấm lòng tha thiết. Mở sách ra đọc, buồn vui lẫn lộn!
Anh em họ Địch phát tâm xin ấn tống hai ngàn bộ, tôi lãnh ấn tống
tám ngàn bộ, lại hứa sẽ tận lực tuyên dương nhằm kết thắng duyên
khiến muôn người sanh Tây.
Giữa Xuân năm Ðinh Mão, kinh Vô Lượng Thọ in xong, thí
khắp trong ngoài nước, lưu truyền rộng rãi. Chỉ nguyện Phật thanh
rền vang khắp tam thiên đại thiên thế giới, chín phẩm sen gieo khắp
biển khổ. Ðầu tháng Tư, hội Phật Giáo Hoa Thịnh Ðốn thành lập, các

liên hữu suy cử tôi làm Hội Trưởng, xin giảng đại ý kinh Vô Lượng
Thọ. Những vị đồng tu từ Hoa Tạng Tinh Xá đến báo họ đã lễ thỉnh
cụ Hoàng Niệm Tổ sang Mỹ hoằng pháp, tôi khen ngợi: “Cụ Hoàng là
truyền nhân của Liên Ðại Sĩ (cụ Hạ Liên Cư). Cõi này may mắn sao
cảm được điềm lành ứng hiện, thật sung sướng quá!”
Tôi lại dặn dò đại chúng phải khéo thờ kính pháp sư, phải trân
quý thắng duyên hy hữu này. Tháng Tám, trong khóa tu học Hạ Linh
Doanh tại chùa Trang Nghiêm ở Nữu Ước, tôi giảng Phổ Hiền Nguyện
Vương. Ðến ngày mãn khóa, tôi qua Hoa Thịnh Ðốn rồi trở về Ðạt
Lạp Tư (Dallas). Tháng Chín bay về Ðài Bắc giảng Ðại kinh. Trước
khi lên đường, tôi được cụ Hoàng trao cho một bộ sách lớn. Mở ra
xem, đấy chính là bản chú giải kinh Vô Lượng Thọ, ắt cụ đã phải tốn
công nhọc sức nhiều lắm mới hoàn thành nổi. Ðem về đọc liền một
mạch.
Ðọc xong, xếp sách thở dài tự nhủ:
“Nay là thời chánh pháp suy vi rồi; thiếu người đề xướng, hội
bản của cụ Hạ Liên Cư tuy đã lưu hành nhưng vẫn chưa đủ, còn nhiều
người chưa được thấy nghe. Tôi đã mấy phen xướng xuất ấn hành
nhưng vẫn chưa có đủ để mỗi người có được một cuốn. Huống hồ là
kẻ giảng kinh này đã ít, người chú giải kinh này càng ít! Thường chỉ
thấy lưu hành những bản như Tiên Chú của cư sĩ Ðinh Phước Bảo,
Nghĩa Sớ của Ngài Cát Tạng đời Ðường, Nghĩa Sớ của ngài Huệ Viễn
đời Tùy mà thôi. So trong ba bản trên, bản của ngài Huệ Viễn minh
bạch, tường tận nhất. Tiếc là văn từ giản ước khiến cho người thời nay
khó lòng nghiên cứu, học hỏi.
Từ trước, tôi từng nghĩ bản kinh bậc nhất trọng yếu hy hữu này
thật là lời giảng xứng tánh đến cùng cực của Như Lai, là pháp thức
hóa độ sẵn có của chúng sanh, là liễu nghĩa Nhất Thừa, là tổng trì môn
của vạn hạnh, là cương lãnh của mọi kinh Tịnh Ðộ, là chỗ quy hướng
của giáo pháp toàn bộ Ðại Tạng, là đại kinh căn bản của ba kinh Tịnh
Ðộ. Mãi vẫn chưa thấy có bậc hiền đức đương thời chú giải, thường
ăn năn, tiếc nuối thời gian dần trôi, nào ngờ ngày nay có được bản

Chú Giải này, thật là điềm chánh pháp lại được hưng khởi đấy ư, là do
phước đức nhân duyên của chúng sanh cảm thành đấy chăng?” Ðọc
lại lượt nữa, càng thấy lời chú giải kinh tường tận, tỉ mỉ, giảng nghĩa
tinh yếu, xác đáng, dẫn chứng rộng rãi. Lời văn thành thực khuyên
lơn hành nhân phải coi việc sắm sửa tư lương Tịnh nghiệp là nhiệm
vụ cấp bách, đã cảm động người đọc sâu xa. Ôi chao! Pháp môn Tịnh
Ðộ cực khó tin mà cực dễ hành, thật khó giảng rõ nghĩa kinh. Nay đã
có được bản hội tập kinh như thế, lại có bản chú giải kinh như thế thì
thật là đã sẵn phương tiện hỗ trợ làm sáng tỏ nghĩa kinh. Việc hoằng
giảng tuyên dương càng dễ dàng hơn!
Tôi nay tuổi đã hoa giáp (sáu mươi), tin tưởng sâu xa pháp môn
Tịnh Ðộ là pháp môn độ sanh, thành Phật bậc nhất của hết thảy chư
Phật. Kẻ có chí hướng Ðại Thừa ắt phải đọc, người phổ độ hữu tình
phải hoằng truyền bản kinh này, phải phát nguyện đến tột đời vị lai
đọc tụng, khuyên lơn, sách tấn vậy. Bởi thế, tôi sốt sắng nhận trách
nhiệm lưu thông, xin ấn hành mười ngàn bộ. Nhận trách nhiệm xướng
xuất, tha thiết nguyện cầu thực hiện bổn nguyện của cụ Niệm Tổ: Các
nơi nghe tiếng đua theo, kẻ in vô lượng, người đọc vô lượng, người
phát tâm được hưởng lợi ích cũng vô lượng, thí trọn pháp giới để vãn
hồi kiếp vận.
Trong lời bạt, cụ Niệm Tổ có nói: “Kinh này in thêm một bộ,
người trì tụng tăng thêm một người, thì giảm thiểu được một phần
nghiệp lực, vãn hồi được một phần kiếp vận thế gian. Ngưỡng mong
những bậc trưởng đức hoằng pháp, bậc hiền đức hằng lo âu cho đời
sẽ hợp lực đề xướng, phổ biến, tuyên truyền khiến cho bộ khế kinh
chiếu Chân đạt Tục, sự lý viên dung này, bộ bảo điển gồm thâu phàm
thánh, tánh đức tu đức bất nhị này được quang minh rạng rỡ, khiến
cho Phật nhật luôn rạng ngời, tai họa dần tiêu tan, phụ trợ kỷ cương
đạo đức. Thật là vị tướng vĩ đại có hiệu lực chẳng thể thí dụ nổi!
Trong những kế sách bình trị từ cội gốc không chi hay hơn nổi kinh
này, trong những yếu quyết cứu đời cũng không chi vượt nổi kinh này.
Các vị tuổi tác, thạc đức trọng vọng đều cùng nhận xét như thế, xin
chớ xem thường vậy!”

Hay sao lời nhận xét ấy! Thật là chẳng thể nghĩ bàn. Những
người góp sức biên tập, hiệu đính bản chú giải này gồm các vị: Giản
Phong Văn, Diêm Thụy Nhan, Nguyễn Quý Lương, Lý Diễn Trung,
Trịnh Quang Huệ v.v… sau khi hiệu đính hoàn tất bản chú giải đã
lãnh hội sâu xa những điều khai thị trong bản Chú Giải. Ai nấy đều
phát đại tâm, nguyện suốt cuộc đời chuyên tâm hoằng truyền. Các
vị Giản, Diêm v.v… đều đã tốt nghiệp đại học, tin tưởng mình có
duyên thù thắng đối với bản chú giải này nên xin tôi dạy kinh này và
học thêm các kinh luận Tịnh Ðộ khác để tư lương tu tập càng được
thêm rộng lớn. Tôi khen ngợi chẳng cùng, chẳng dám nại cớ học
vấn thô lậu để từ khước lời thỉnh cầu. Nguyện những vị đồng tu tâm
đồng Phật, nguyện giống như Phật, hiểu biết giống như Phật, hạnh
giống như Phật, đều được chư Phật hộ niệm, được hết thảy Bồ Tát
ủng hộ, đều đắc Thượng Phẩm Thượng Sanh thì mới chẳng cô phụ
nỗi khổ tâm hội tập, chú giải của hai vị Ðại Sĩ Hạ Liên Cư và Hoàng
Niệm Tổ. Cụ Hoàng chẳng nề hà sức học tôi kém cỏi, bảo viết lời
tựa, vì nghĩa chẳng dám chối từ, đành xin thuật lại nhân duyên thù
thắng để thưa chuyện cùng các thiện tín mà thôi.

Ngày Chư Phật Hoan Hỷ (Vu Lan) năm Mậu Thìn (1988)
Tịnh nghiệp học nhân Thích Tịnh Không kính ghi
tại Hội Phật Giáo Hoa Thịnh Ðốn

 

MẤY LỜI TÂM HUYẾT
Trong Kinh Đại Tập, đức Phật Thích Ca đã huyền ký rằng: “Thời
mạt pháp ức ức người tu hành khó có người thành tựu, duy chỉ có nương
vào pháp môn Tịnh Độ mà được thoát Luân Hồi.” Phật dạy thời này
chúng sanh nghiệp nặng chướng sâu huệ cạn, duy chỉ có niệm A Di
Đà Phật là dễ dàng thành tựu, vì pháp môn này độ khắp ba căn, tề thâu
phàm thánh.
Chúng tôi đã biết pháp môn Tịnh Độ từ thuở còn nhỏ, nhưng mãi
đến năm 2007, sau khi được nghe những băng đĩa giảng của Đại Lão
Hòa Thượng thượng Tịnh hạ Không, chúng tôi mới giác ngộ và bắt
đầu chuyên tu chuyên hoằng pháp môn Tịnh Độ. Hòa Thượng Tịnh
Không khuyên chúng ta nên:“Nhất môn thâm nhập, trường thời huân
tu, chuyên tụng một Kinh Vô Lượng Thọ, chuyên niệm 1 câu A Di Đà
Phật, không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn, miệng niệm-tai
nghe-tâm nhớ tưởng” để trong đời này được liễu sanh thoát tử. Hàng
hậu học chúng ta phải biết y giáo phụng hành: “Lão thật, vâng lời, thật
làm” để truyền đăng tục diệm, nối truyền chánh pháp của Như Lai trong
9000 năm còn lại của thời mạt pháp.
Vâng theo lời khai thị của Hòa Thượng, chúng tôi bắt đầu thành
lập Pháp Hội Niệm Phật A Di Đà và hướng dẫn đại chúng tụng Kinh

Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình
Đẳng Giác do cư sĩ Hạ Liên Cư hội tập.
Đến năm 2010, khi sang HongKong đảnh lễ Đại Lão Hòa Thượng
Tịnh Không, chúng tôi được Ngài g iới thiệu và tặng cho quyển Chú
Giải Kinh Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh
Tịnh Bình Đẳng Giác của cư sĩ Hoàng Niệm Tổ hội tập.
Hòa Thượng nói: “Kinh Vô Lượng Thọ thật thậm thâm vi diệu,
nên việc chú giải bộ Kinh này cũng cần thiết như việc hội tập.” Cư Sĩ
Hoàng Niệm Tổ là đệ tử chân truyền của Hạ lão cư sĩ, Ngài theo học
với cư sĩ Hạ Liên Cư hai mươi năm và được cư sĩ Hạ Liên Cư giao cho
sứ mệnh là chú giải quyển Kinh Vô Lượng Thọ. Hoàng lão cư sĩ vì
muốn báo đền ơn Thầy nên không ngại tuổi cao sức yếu, dành sáu năm
chú giải bộ Kinh này. Khi hoàn thành, cư sĩ Hoàng Niệm Tổ đã tặng 1
bản cho Hòa Thượng Tịnh Không. Sau khi xem xong quyển Chú Giải,
Hòa Thượng Tịnh Không vô cùng cảm động, tán thán và bội phục cư sĩ
Hoàng Niệm Tổ.
Năm nay vào tháng 4-2014, chúng tôi có cơ duyên đến HongKong
lần nữa để đảnh lễ Đại Lão Hòa Thượng Tịnh Không. Ngài hiện đang
giảng giải quyển Chú Giải này lần thứ 4. Hòa Thượng Tịnh Không nói
chúng ta chỉ cần đọc quyển Chú Giải này cũng như là đọc hết tất cả
Kinh, Luận, Chú Sớ của chư Phật chư Tổ, bởi vì Hoàng lão cư sĩ đã
dùng hơn 190 bộ Kinh, Luận, Chú Sớ của chư Tổ Sư để chú giải Kinh
này. Đây là quyển hội tập Chú Giải xuất sắc nhất từ xưa đến nay.
Chúng tôi vô cùng cảm động khi nghĩ đến tấm lòng vì Phật pháp
vì chúng sanh của Hoàng lão cư sĩ, nên chúng tôi phát tâm in 10.000
bản để tặng miễn phí cho chư vị đồng tu, ngõ hầu đem quyển Chú Giải
này lưu truyền mãi mãi về sau. Chúng tôi hy vọng chư vị nổ lực tu học
để không phụ lòng chư Cao Tăng, Đại Đức đã phiên dịch, hội tập, chú
giải và thuyết giảng bộ Kinh này. Nguyện cho tất cả những ai đọc được
bản Chú Giải này, ngay trong đời này thân tâm khỏe mạnh và được
vãng sanh Thế Giới Cực Lạc…A Di Đà Phật!

Khu Chuyên Tu, ngày 1 – 8 – 2014
Sa Môn Thích Giác Nhàn Kính Ghi

 

CHÚ GIẢI PHẬT THUYẾT ÐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM THANH TỊNH BÌNH ÐẲNG GIÁC KINH

Lời Nói Đầu
Pháp môn Tịnh độ là Nhất Thừa liễu nghĩa, vạn thiện đồng quy,
thích ứng khắp ba căn, thâu trọn phàm thánh, thoát khỏi ba cõi theo
chiều ngang (hoành siêu tam giới), nhanh chóng bước lên bốn cõi Tịnh
Ðộ, cực viên, cực đốn, là pháp môn vi diệu chẳng thể nghĩ bàn. Kinh
Vô Lượng Thọ là kinh lãnh đạo trọng yếu của các kinh Tịnh Ðộ. Các
bậc đại đức trong Tịnh tông thường gọi là kinh này là kinh Tịnh Ðộ bậc
nhất.
Quyển Phật thuyết Ðại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm
Thanh Tịnh Bình Ðẳng Giác Kinh là do thầy tôi, lão cư sĩ Hạ Liên
Cư, hội tập năm bản dịch gốc đời Hán, Ngụy, Ngô, Ðường, Tống của
kinh Vô Lượng Thọ, chọn hết những điểm tinh yếu, thâu trọn các điểm
mầu nhiệm soạn thành kinh này, hiện đang được công nhận là bản kinh
Vô Lượng Thọ hoàn thiện nhất.
Kinh Vô Lượng Thọ là cương yếu của Tịnh tông. Cư sĩ Bành
Thiệu Thăng đời Thanh khen rằng: “Kinh Vô Lượng Thọ là Viên giáo
xứng tánh của Như Lai, là cách thức hóa độ chúng sanh về cái họ vốn
sẵn có”.

Thầy Thích Ðạo Ẩn người Nhật cũng khen kinh này như sau:
“Chánh thuyết của đức Như Lai xuất thế, kinh điển mầu nhiệm kỳ lạ,
đặc biệt tối thắng, lời giảng cùng cực về Nhất Thừa cứu cánh, lời vàng
khiến chóng chứng viên dung, lời thành thật của mười phương Như Lai,
là giáo pháp chân thật dành cho kẻ mà thời tiết, căn cơ đã chín muồi”.
Cậu tôi là lão cư sĩ Mai Quang Hy cũng ngợi khen: “Kinh Vô
Lượng Thọ là lời giảng xứng tánh đến cùng cực của Như Lai, là cách
thức giáo hóa chúng sanh về cái họ sẵn có, là Nhất Thừa liễu nghĩa, là
pháp môn tổng hợp vạn thiện, là cương yếu của hơn một trăm mấy mươi
kinh Tịnh Ðộ, là chỉ quy của cả Ðại Tạng giáo”.
Các bậc hiền đức đã nồng nhiệt khen ngợi kinh này như trên là
vì pháp môn Trì Danh Niệm Phật rất viên mãn, thẳng chóng, là phương
tiện rốt ráo nhất siêu trực nhập, viên đốn cùng cực. Dùng biển nguyện
Nhất Thừa của đức Di Ðà, sáu chữ hồng danh của Quả Giác rốt ráo để
làm cái tâm phát khởi cầu thành Phật quả cho bọn chúng sanh ta. Dùng
quả làm nhân, nhân quả đồng thời; từ quả khởi tu, nên tu cũng chính là
quả. Tâm tu cầu thành Phật chính là cái tâm thành Phật chẳng thể nghĩ
bàn. Vì vậy, sách Di Ðà Yếu Giải viết:
“Một câu A Di Ðà Phật chính là pháp để đắc Vô Thượng Chánh
Ðẳng Chánh Giác của đức Bổn Sư Thích Ca trong đời ác Ngũ Trược,
nay đem toàn thể Quả Giác này trao cho chúng sanh trược ác. Ðó là
cảnh giới sở hành của chư Phật, chỉ Phật với Phật mới có thể hiểu cùng
tận được nổi, chẳng phải là điều cửu giới dùng tự lực mà tin hiểu được
nổi”.
Lại viết: “Ðem pháp giới thể làm thành thân và cõi của Phật Di
Ðà. Cũng do chính toàn bộ cái Thể ấy làm thành danh hiệu Di Ðà. Vì
vậy, danh hiệu Di Ðà chính là bổn giác lý tánh của chúng sanh”.
Ðủ thấy rằng: Kinh này thật là lời giảng xứng tánh đến cùng cực
của đấng đại từ bi phụ Như Lai Thế Tôn, là kho tàng bí mật của chư
Phật đem phơi bày trọn vẹn ra hết. Vả lại, pháp môn Niệm Phật đây
cũng chính là cách thức để giáo hóa chúng sanh về cái họ vốn sẵn có.
Ðúng như sách Yếu Giải đã nói, một câu Phật hiệu này chính là bổn
giác lý tánh của chúng sanh. Nên biết: Cái tâm niệm Phật ngay hiện tại

của ta chính là Quả Giác của Như Lai. Do đó, Quán kinh dạy: “Tâm
này là Phật”. Tâm này trì danh thì chính là “tâm này làm Phật”. Vốn
đã là Phật, nay lại làm Phật. Vì vậy, ngay lập tức là Phật, thẳng chóng
thỏa đáng, phương tiện rốt ráo, kỳ diệu, đặc biệt, thù thắng chẳng thể
nghĩ bàn.
Hơn nữa, trong các kinh Tịnh Ðộ, chỉ có kinh này có đủ trọn vẹn
cả Viên lẫn Diệu: Dùng “phát Bồ Ðề tâm, nhất hướng chuyên niệm”
làm Tông, lấy đại nguyện mười niệm ắt vãng sanh của Phật Di Ðà làm
gốc, giảng tỉ mỉ chánh nhân vãng sanh của ba bậc, bao gồm trọn khắp
các loài thánh phàm trong chín giới, dạy rõ pháp Trì Danh Niệm Phật,
trực chỉ con đường vãng sanh quy nguyên. Vì vậy, kinh này được xem
là kinh bậc nhất của Tịnh Tông.
Khổ nỗi, kinh điển quý báu thù thắng bậc nhất của Tịnh tông này
lại bị chìm lấp trong Ðại Tạng Trung Hoa đến hơn ngàn năm. Xét đến
nguyên nhân, cũng bởi kinh này có đến năm bản dịch gốc, các bản dịch
hoặc rộng hoặc lược sai biệt khá lớn. Nêu một ví dụ: Về đại nguyện của
đức Di Ðà, trong hai bản dịch đời Ðường và đời Ngụy có bốn mươi tám
nguyện, nhưng hai bản dịch đời Ngô và Hán chỉ có hai mươi bốn, bản
dịch đời Tống lại là ba mươi sáu nguyện. Ðiều này khiến cho kẻ sơ tâm
học Phật nếu chuyên trì một bản dịch thì khó bề hiểu rõ ý chỉ sâu xa.
Nếu đọc đủ cả năm bản lại càng gian nan. Vì vậy, đa số bỏ kinh này, dồn
sức vào nghiên cứu kinh A Di Ðà.
Ðầu đời Thanh, cư sĩ Bành Thiệu Thăng nói: “Kinh này ít được
xiển dương thì quả thật là do chúng ta thiếu cội lành”. Thật đúng như
vậy! Thế nên, các đại cư sĩ Vương Nhật Hưu đời Tống, Bành Thiệu
Thăng, Ngụy Thừa Quán đời Thanh đều vì hoằng dương kinh này mà
mỗi vị trước sau soạn ra hội bổn và tiết bổn1
Cư sĩ Vương Nhật Hưu đời Tống từng viết cuốn Long Thư Tịnh
Ðộ Văn được bốn biển khen ngợi, truyền tụng tới nay. Ông Vương khi
lâm chung đứng ngay ngắn vãng sanh, đủ chứng minh cư sĩ thật là bậc

hạnh giải đều ưu việt, là bậc tại gia đại đức thù thắng hy hữu của Tịnh
Tông Trung Hoa. Ông Vương tiếc nuối bảo điển bị bụi phủ, bèn hội tập
bốn bản dịch các đời Hán, Ngụy, Ngô, Tống của kinh Vô Lượng Thọ,
soạn thành một bản, đặt tên là Ðại A Di Ðà kinh. Bản của ông Vương ra
đời được cả nước khen là tiện lợi, được các tùng lâm lấy làm khóa bổn2
lưu truyền phổ biến còn hơn cả bản dịch gốc. Càn Long Ðại Tạng Kinh
của Trung Hoa và Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng của Nhật đều thu nhập
bản hội tập của Vương vào Ðại Tạng.
Liên Trì đại sư nói: “Bản hội tập của ông Vương so sánh với năm
bản dịch thì giản dị, rõ ràng, hiện đang phổ biến, lợi ích rất lớn”. Lại
nói: “Do bản của họ Vương phổ biến trong đời, người ta quen xem”. Vì
thế, trong tác phẩm Di Ðà Sớ Sao, mỗi khi dẫn chứng kinh Vô Lượng
Thọ, đa phần Ngài trích dẫn từ bản của ông Vương. Cận đại, Ấn Quang
Đại Sư khi viết lời tựa cho lần tái bản bộ Viên Trung Sao, cũng khen bản
của ông Vương là: “Văn nghĩa tường tận, lưu thông khắp nơi”.
Bản hội tập của ông Vương tuy có công rất lớn đối với Tịnh tông,
nhưng có quá nhiều điểm sai sót. Ngọc trắng có vết, hiền giả xót xa!
Liên Trì đại sư chê rằng: “Sao phần trước, viết thêm phần sau”, “phần
lấy, phần bỏ chưa trọn vẹn”. Bành Thiệu Thăng cư sĩ chê là: “Lộn xộn,
trái nghịch nhau, chẳng phù hợp với ý chỉ viên dung”. Bút giả nay dựa
theo lời phê của các bậc cổ đức, trộm nêu ra ba khuyết điểm của ông
Vương:
– Một, bản hội tập của ông Vương chỉ dựa theo bốn bản, chưa
dùng bản dịch đời Ðường. Bản dịch đời Ðường mang tên Vô Lượng
Thọ Như Lai Hội trích từ kinh Ðại Bảo Tích do đại sư Bồ Ðề Lưu Chí
dịch, lời văn có nhiều điểm áo diệu, tinh yếu mà các bản dịch khác
không có.
– Hai, phần lấy, phần bỏ chưa trọn vẹn: Chọn phần rườm rà, bỏ
phần trọng yếu, biến sâu thành cạn. Chẳng hạn như, Liên Trì đại sư quở
rằng: “Như ba bậc vãng sanh, bản dịch đời Ngụy đều nói là phát Bồ
Ðề tâm, mà bản họ Vương chỉ nói là bậc trung phát Bồ Ðề tâm. Bậc hạ
bảo chẳng phát, bậc thượng lại chẳng nói, thành ra cao thấp chẳng thứ

tự. Vì vậy, bảo là chưa trọn vẹn”. Do câu trên, thấy rằng “bậc thượng
chẳng nói” là bỏ chỗ trọng yếu, “bậc hạ lại nói chẳng phát” chính
là biến sâu thành cạn. Vì vậy, Liên Trì đại sư cùng ông Bành đều quở
trách.
– Ba, tự ý thêm văn, nghiễm nhiên tự sáng tác. Họ Vương hay
dùng lời văn mình sáng tác ra để diễn thuật nghĩa của bản dịch gốc. Vì
vậy, Liên Trì đại sư quở rằng: “Sao phần trước, thêm phần sau, chưa
theo đúng phép dịch thuật”. Ngài trách ông Vương sao dẫn kinh văn
nơi phần trước, rồi tiếp đó, chép thêm lời văn ông tự soạn. Nếu đã là
hội tập, cần phải dựa theo bản dịch gốc, muôn phần chẳng được dùng
câu nào ngoài bản dịch gốc. Vì ông tự tiện thêm câu văn nên Tổ trách
họ Vương “chưa theo đúng phép dịch thuật”. Thấy được những khuyết
điểm trên của họ Vương không có nghĩa là chẳng nên hội tập, mà chỉ để
thấy rằng hội bản của ông ta có nhiều tỳ vết.
Cư sĩ Bành Thiệu Thăng cảm khái trước lỗi lầm của hội bản họ
Vương, bèn dùng bản dịch đời Ngụy chia thành từng mục, tạo thành
bản kinh Vô Lượng Thọ thứ bảy, nhưng bản này chỉ là tiết bản của bản
dịch đời Ngụy.
Vì thế, cuối đời Thanh, cư sĩ Ngụy Thừa Quán (tự là Mặc Thâm)
nhằm cứu vãn khuyết điểm của ông Long Thư (hiệu của ông Vương
Nhật Hưu) bèn dùng cả năm bản dịch gốc hội tập thành một bản. Ban
đầu đặt tên là kinh Vô Lượng Thọ, sau ông Chánh Ðịnh Vương Canh
Tâm đổi thành Ma Ha A Di Ðà Kinh. Lời văn bản hội tập của ông Ngụy
giản dị, trong sáng, chọn lọc, thích đáng, vượt xa bản họ Vương, nhưng
vẫn vướng căn bịnh thêm văn chưa hoàn toàn dứt hết được. Do đó, bản
của họ Ngụy cũng chưa tận thiện.
Tiên sư là cư sĩ Hạ Liên Cư bi, trí cùng đủ, thông suốt Tông lẫn
Giáo, viên dung Hiển, Mật, Thiền, Tịnh nhất tâm, chuyên hoằng dương
trì danh niệm Phật nhiếp vạn đức. Do hoằng dương Tịnh Tông nên Ngài
mong mỏi bản kinh đệ nhất của Tịnh Tông này sẽ được vẹt bụi tỏa sáng,
nguyện ước bản kinh vô thượng này lợi lạc đời sau, bèn kế tục tiền hiền,
tiến hành hội tập lần nữa, vứt bỏ vạn duyên đóng cửa ba năm, tịnh đàn,
kết giới, lắng tâm, tồn chí, sửa bản thảo mười lần mới hoàn tất.

Ðầu tiên, được vị lão pháp sư thấu triệt cả Tông lẫn Giáo là Huệ
Minh, tay cầm hội bản chụp hình trước Phật điện để chứng minh. Kế đó,
vị đại đức trong Luật tông là lão pháp sư Từ Châu chuyên giảng kinh
này ở Tế Nam, đích thân phân khoa, giảng giải. Cậu tôi là Mai lão cư sĩ
cũng giảng kinh này trên đài phát thanh trung ương, khen là hội bản tốt
nhất. Sau đấy, trong phần lời tựa của kinh, ông còn viết:
“Tinh đáng, minh xác, hiển nhiên có căn cứ. Không một nghĩa
nào chẳng lấy từ bản dịch gốc. Không một câu nào vượt ngoài bản gốc.
Làm rõ ràng những chỗ khó khăn, thô tháp, tối nghĩa. Với chỗ phiền
phức rườm rà làm cho đơn giản gọn gàng. Chỗ lộn xộn, lôi thôi biến
thành nghiêm chỉnh. Chỗ thiếu sót làm cho viên dung. Chỗ tốt đẹp đều
được đầy đủ, không sự thực nào chẳng được thâu lấy trọn vẹn. Tuy
muốn chê là bản chẳng hay cũng vô phương”.
Vì vậy, từ khi hội bản của tiên sư ra đời đến nay, chẳng có chân
mà đi khắp chốn. Các bậc tôn túc Phật giáo cho rằng hội bản này văn
giản dị, nghĩa phong phú, câu cú lưu loát, nghĩa lý viên dung, nên nó
được giảng thuyết, tán dương, lưu truyền cả trong nước lẫn hải ngoại.
Người thấy kẻ nghe hoan hỷ tín thọ, trì tụng, ấn hành liên tục chẳng dứt.
Gần đây, hội bản này được giới học Phật hải ngoại đưa vào Tục Tạng
trong lần ấn hành mới nhất. Mừng được thấy quang minh của Ðại kinh
thường chiếu thế gian, cái nguyện thù thắng hội tập của tiên hiền may
đã viên thành. Bản kinh Vô Lượng Thọ hoàn thiện nhất nay đã hiện
diện, ấy thật là đại sự nhân duyên hy hữu khó gặp vậy.
Niệm Tổ tôi là phàm phu đầy dẫy phiền não, trót được tiên sư
giao phó đại sự chú giải hoằng dương kinh này. Tôi tuy trước đã phát
đại tâm, nhưng chướng sâu huệ cạn, phải vâng lãnh sứ mạng nặng nề
này thật hoảng hốt tột bực! May được từng theo học dưới giảng tòa của
thầy, đích thân nghe toàn bộ kinh này. Trong hai mươi năm hầu hạ, từng
được nghe điểm huyền áo của các tông Thiền, Tịnh, Mật, hiểu thô thiển
thâm tâm hội tập Ðại kinh của tiên sư. Ðầu thập niên sáu mươi, từng thử
viết đề cương huyền nghĩa kinh này, trình lên thầy duyệt, may được ấn
khả, nhưng trong cơn kiếp nạn cách mạng Văn Hóa, bản thảo ấy bị hủy
mất chẳng còn chút gì.

Tôi giờ đây tuổi đã ngoài bảy mươi, lại lắm bệnh cũ, thẹn chưa
báo ơn sâu, sợ vô thường chợt đến, nên gắng gượng tấm thân già bệnh,
kế tục hoằng thệ truyền đăng, đem thân tâm này cúng dường Tam Bảo,
đóng cửa tạ khách, toàn lực chú giải kinh, mong báo một trong muôn
phần ân sâu của tiên sư cùng mười phương tam thế thượng sư Tam Bảo
cùng pháp giới chúng sanh.
Thêm nữa, kinh này thù thắng ở chỗ khế lý, khế cơ. Lý là Thật
Tế Lý Thể, cũng tức là Chân Như Thật Tướng, bổn tế chân thật. Khế lý
là vì kinh này vốn trụ nơi chân thật huệ để khai hóa hiển thị Chân Thật
Tế cùng ban cái lợi chân thật, thuần nhất chân thật. Kinh này còn được
xưng tụng là Trung Bổn Hoa Nghiêm kinh: Hết thảy sự lý được giảng
trong kinh này đều là Nhất Chân pháp giới sự lý vô ngại, sự sự vô ngại
của kinh Hoa Nghiêm. Lý thể bí mật, sâu thẳm của kinh Hoa Nghiêm
hiện diện trong kinh này nên nói là khế lý.
Về khế cơ, chỉ riêng mình kinh này là thù thắng. Pháp môn Trì
Danh của kinh này thích hợp khắp cả ba căn, thâu trọn phàm thánh. Kẻ
thượng thượng căn thật rất thích hợp gánh vác toàn thể kinh này, kẻ hạ
hạ căn cũng có thể do kinh này đắc độ. Trên thì như Pháp Thân Ðại Sĩ:
Văn Thù, Phổ Hiền cũng đều phát nguyện vãng sanh. Dưới đến Ngũ
Nghịch, Thập Ác lâm chung niệm Phật cũng đều tùy nguyện vãng sanh.
Vượt ngang khỏi ba cõi, chứng trọn vẹn bốn cõi Tịnh Ðộ, chóng sát
cánh cùng Quán Âm, Thế Chí, mới thấy phương tiện rốt ráo của pháp
môn này thật thích ứng khắp mọi căn cơ.
Hơn nữa, khế cơ còn có nghĩa là “khéo khế hợp với căn cơ, thời
đại”. Như Lai rủ lòng từ riêng lưu lại kinh này một trăm năm nữa sau
khi các kinh khác diệt hết, đúng là ngụ ý: Kinh này phù hợp xã hội hiện
tại và tương lai. Hiện tại, khoa học phát triển, nhân loại càng cần phải
có đầy đủ tri thức rộng rãi. Xã hội tiến bộ, trách nhiệm mỗi người phải
gánh vác càng tăng thêm. Vì vậy, ai nấy đều phải học rộng, đa năng,
cúc cung tận tụy tham gia kiến thiết, tạo phước cho nhân dân, thực hiện
nhân gian Tịnh Ðộ. Cận đại, đại sư Thái Hư đề xướng nhân gian Tịnh
Ðộ, từng dẫn chứng kinh Vô Lượng Thọ. Ấy là bởi kinh này soi chiếu
cả pháp thế gian lẫn xuất thế gian, dạy rõ hai đế Chân, Tục.

Ðiểm mầu nhiệm của Tịnh tông là “chẳng lìa Phật pháp mà
hành thế pháp, chẳng bỏ thế pháp mà chứng Phật pháp”. Bởi pháp
Trì Danh thật là tiện lợi, tu chỗ nào cũng được, nào phải ẩn cư rừng núi,
lúc nào cũng niệm được, chẳng phiền bế quan, ngồi yên, chỉ cần phát
khởi cái tâm rộng lớn, một bề chuyên niệm, thậm chí mười niệm, một
niệm cũng được vãng sanh, chẳng trở ngại công việc thế gian, vẫn như
cũ mà chóng thoát sanh tử. Lại có thể tự giác, giác tha, rộng độ chúng
sanh đời vị lai. Ðây cũng là ta, người cùng lợi, tạo phước cho xã hội
ngay trong hiện tại.
Vì vậy, kinh dạy: “Đương lai chi thế, kinh đạo diệt tận, ngã dĩ từ
bi ai mẫn, đặc lưu thử kinh chỉ trụ bách tuế. Kỳ hữu chúng sanh, trị tư
kinh giả, tùy ý sở nguyện, giai khả đắc độ” (Ðời tương lai kinh đạo diệt
hết, ta do từ bi xót thương, riêng lưu lại kinh này tồn tại trăm năm. Nếu
có chúng sanh gặp được kinh này, tùy lòng mong cầu đều đắc độ). Rõ
ràng kinh này phù hợp tình huống thực tế của xã hội, chiếu cả Chân lẫn
Tục, viên dung cả Sự lẫn Lý, thâu phàm lẫn thánh, tâm và Phật chẳng
hai. Vì vậy, chỉ mình kinh này có thể trường tồn trong đời vị lai. Rõ
ràng kinh này chẳng những là cương yếu của các kinh Tịnh Ðộ mà còn
là chỉ quy cho giáo pháp của cả Ðại Tạng, thật vì hết thảy hữu tình cõi
này, phương khác, hiện tại, tương lai được lìa khổ hưởng vui, tột cùng
pháp yếu Bồ Ðề.
Vì vậy, Niệm Tổ tôi nghĩ ân mong báo đáp, phát tâm vô thượng,
kính cẩn chú giải kinh này để tiếp nối Phật huệ mạng. Kính mong hai
giới tăng, tục, thập phương Như Lai, thượng sư, bổn tôn, kim cang hộ
pháp từ ân chở che, oai đức thầm gia hộ. Mong bản chú thích này sẽ khế
hợp thánh tâm, rộng khởi phát niềm tin cho mọi người. Hễ ai thấy nghe
đều vào được biển nguyện Nhất Thừa của Phật Di Ðà.

A. KHÁI YẾU
Kính cẩn giải thích kinh này dựa theo quy cách của tông Hoa
Nghiêm và khuôn mẫu của bộ A Di Ðà Sớ Sao, chia tổng quát thành
mười môn: Một: giáo khởi nhân duyên; hai: thể tánh kinh này; ba: tông
thú của bộ kinh; bốn: phương tiện lực dụng; năm: căn khí được hóa độ;
sáu: tạng giáo sở nhiếp; bảy: bộ loại sai biệt; tám: dịch, hội hiệu, thích;
chín: tổng thích danh đề; mười: phần giải thích chính ý nghĩa của kinh.
Chín môn đầu luận về cương yếu, tông thú, bộ loại của toàn kinh,
có điểm đại đồng tiểu dị với Ngũ Trùng Huyền Nghĩa của tông Thiên
Thai. Tuy về mặt rộng, lược, lấy, bỏ có chút sai khác, nhưng nói chung:
Trước hết, tổng luận để phát huy rõ ràng chỗ cương yếu của kinh, khiến
cho người đọc trước hết nhận thức tổng thể, sau đấy mới nghiên cứu
kinh văn. Cái lưới trương lên thì các mắt lưới mở ra, lãnh hội dễ dàng.
Ðiều này cũng giống như trong các sách vở cận đại luôn có phần khái
luận đặt ở đầu. Ở đây tôi gọi là Khái Yếu, là phần thứ hai [của bản chú
giải].
1. Giáo khởi nhân duyên
Giáo khởi nhân duyên là nói về nhân duyên hưng khởi đại giáo.
Trước hết, trình bày sự hưng khởi của Phật giáo và pháp môn Tịnh Ðộ,
rồi mới thuật rõ nhân duyên hưng khởi kinh này.
Phàm hết thảy các pháp chẳng ngoài nhân duyên. Nhân duyên
hưng khởi đại giáo vô lượng, mà vô lượng nhân duyên lại chỉ là một đại
sự nhân duyên. Kinh Pháp Hoa dạy: “Chư Phật Thế Tôn duy nhất dĩ
nhất đại sự nhân duyên cố, xuất hiện ư thế” (Chư Phật Thế Tôn chỉ vì
một đại sự nhân duyên mà thị hiện xuất hiện trong đời). “Duy dĩ Phật
chi tri kiến, thị ngộ chúng sanh” (Chỉ là đem tri kiến Phật chỉ bày, giác
ngộ chúng sanh).

5 1 bỏ phiếu
Article Rating
guest
2 Comments
lâu đời nhất
mới nhất bình chọn nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback
3 năm trước đây

[…] Ngoài sách Tịnh Tu Tiệp Yếu Báo Ân Đàm thì Lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ còn có các sách khác để quý đạo hữu tham khảo: 1. Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ – Cư Sĩ Hoàng Niệm Tổ […]

Vũ Văn Trà
Vũ Văn Trà
1 năm trước đây

xin hỏi cuốn này do ai dịch vậy ạ?

2
0
Bình luận góp ý - hỏi đáp thắc mắc.x
()
x